Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Tuy nhiên, một vấn đề phức tạp thường nảy sinh là: Nếu đang trong thời gian hưởng án treo mà người đó lại tiếp tục phạm tội mới thì sẽ bị xử lý như thế nào?
Bài viết này Luật Kỳ Vọng Việt sẽ làm rõ các khái niệm cơ bản: Án treo, Án phạt tù giam, Thời gian thử thách, và phân tích cụ thể quy định của Bộ luật Hình sự về việc xử lý đối với người phạm tội mới trong thời gian hưởng án treo.

1. Khái niệm cơ bản
Căn cứ pháp lý:
- Điều 38, 39, 65 Bộ Luật Hình sự 2015
- Điều 1, 4, 5, 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HDTP sửa đổi bổ sung trong Nghị quyết 01/2022/NQ-HDTP
- Điều 85 Luật Thi hành án Hình sự 2019
Án phạt tù giam
1.1. Khái niệm
Là hình thức phạt “hạn chế quyền tự do” của người bị kết án; buộc họ phải cách ly khỏi cuộc sống xã hội trong một khoản thời gian nhất định. Người đã bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ; phải tuân thủ theo một chế độ sinh hoạt, lao động cải tạo của trại giam.
1.2. Phân loại
Tù có thời hạn: Là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.
- Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm
- Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù
- Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng
Tù chung thân: Là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.
- Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Án treo
2.1. Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm và phải đi kèm với thời gian thử thách khi căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.
- Thời gian thử thách có thể là từ 1-5 năm
- Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải tuân thủ các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, như
2.2. Những điều cần lưu ý trong thời gian chấp hành án
Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án hình sự và cam kết chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự:
- Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế nơi cư trú, làm việc hoặc học tập; chấp hành hình phạt bổ sung, bồi thường thiệt hại (nếu có), trừ trường hợp có lý do khách quan được cơ quan có thẩm quyền xác nhận
- Chịu sự giám sát, giáo dục của: Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi cư trú), hoặc Đơn vị quân đội (nếu thuộc lực lượng vũ trang), đồng thời chịu sự quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
- Chấp hành các quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, bao gồm các trường hợp được phép tạm vắng, thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, học tập – và phải xin phép, báo cáo đúng quy trình
- Có mặt theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, chính quyền được giao giám sát, giáo dục hoặc cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền
- Báo cáo định kỳ hằng tháng bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình
Nếu có thời gian được phép tạm vắng, thì sau khi trở về phải nộp báo cáo bổ sung về thời gian vắng mặt và việc thực hiện nghĩa vụ trong thời gian đó
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách
Thời gian thử thách trong án treo
Thời gian thử thách là khoảng thời gian mà người được hưởng án treo phải chịu sự giám sát, giáo dục tại cộng đồng và phải tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý nhất định. Đây là điều kiện để xem xét việc miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
- Thời gian thử thách tối thiểu: 01 năm
- Thời gian thử thách tối đa: 05 năm
Mức cụ thể do Tòa án quyết định tùy theo:
- Mức hình phạt tù được tuyên
- Nhân thân, thái độ khai báo, khắc phục hậu quả
- Nguy cơ tái phạm, mức độ cần thiết phải giám sát
Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm
Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách:
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu
Ngoài ra còn có thể tính thời gian như sau:
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo
– Người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:
- Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo
- Có nhiều tiến bộ được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm pháp luật, các nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động sản xuất, bảo vệ an ninh Tổ quốc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng
- Được Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.
– Mỗi năm người được hưởng án treo chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ 01 tháng đến 01 năm.
– Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên.
– Trường hợp người được hưởng án treo đã được cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, nhưng không được Tòa án chấp nhận, nếu những lần tiếp theo mà họ có đủ điều kiện thì Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo tiếp tục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho họ
– Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện được hướng dẫn thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách còn lại.
– Lập công là trường hợp người được hưởng án treo có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng của nhà nước, tập thể, công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có sáng kiến được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, chiến đấu, công tác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, xác nhận.
– Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên có kết luận là người được hưởng án treo đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.
2. Xử lý trường hợp phạm tội mới trong thời gian hưởng án treo
Căn cứ pháp lý:
- Điều 3, 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HDTP sửa đổi bổ sung trong Nghị quyết 01/2022/NQ-HDTP
- Điều 65 Bộ Luật Hình sự 2015
(1) Theo quy định pháp luật, người phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo là một trong những trường hợp không được cho hưởng án treo lần nữa. Điều này thể hiện tính răn đe và giáo dục của pháp luật, nhằm đảm bảo rằng án treo chỉ được áp dụng cho những người thật sự có khả năng tự cải tạo.
(2) Hậu quả pháp lý đối với người phạm tội mới trong thời gian thử thách
(3) Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm tội mới được thực hiện như sau:
- Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới
- Sau đó tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước
- Nếu người phạm tội đã bị tạm giam, tạm giữ, thời gian này được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù
(4) Trường hợp phát hiện phạm tội khác trước khi được hưởng án treo
- Nếu trong thời gian người đang được hưởng án treo mà phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác, thì:
- Tòa án sẽ quyết định hình phạt đối với tội phạm đó nhưng không tổng hợp hình phạt với bản án đã cho hưởng án treo
- Người phạm tội phải chấp hành đồng thời hai bản án, và các cơ quan thi hành án hình sự sẽ phối hợp tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật.
KẾT LUẬN
Án treo là chính sách nhân đạo của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo ngoài cộng đồng. Việc nắm rõ các quy định này không chỉ giúp người bị kết án ý thức được trách nhiệm tuân thủ pháp luật mà còn là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý chính xác, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Trên đây là Nếu đang hưởng án treo mà phạm tội mới thì sẽ bị phạt thế nào? Nếu bạn còn thắc mắc liên quan đến vấn đề này. Hãy liên hệ với Luật Kỳ Vọng Việt để được tư vấn, hỗ trợ một cách chính xác nhất.
Trân trọng cảm ơn!
Zalo: 090.225.5492
Xem thêm:
- Mẫu đơn xin xóa án tích gửi Sở Tư pháp
- Thủ tục xin giấy phép lao động mới nhất
- Vứt bỏ con mới đẻ có bị đi tù?
- Trách nhiệm Công ty điều hành xe công nghệ khi thay đổi bên phụ trách xử lý dữ liệu cá nhân
- Bỏ trốn 25 năm sau khi giết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
- Thủ tục xin Giấy phép môi trường cho công ty tái chế phế liệu
- Lập quy trình bảo vệ dữ liệu cá nhân của doanh nghiệp thương mại điện tử
- Thủ tục để được xóa án tích
- Vi phạm pháp luật khi đang hưởng án treo thì hậu quả thế nào?
- Những lưu ý khi soạn thảo Hợp đồng lao động để tránh rủi ro pháp lý
