Hoạt động xây dựng, trùng tu các cơ sở tôn giáo như chùa… thường được thực hiện thông qua nguồn vốn huy động từ thiện, đóng góp của tín đồ và các tổ chức xã hội. Một tình huống pháp lý thường gây thắc mắc là: khi một sư thầy xin được tiền từ các tổ chức an sinh xã hội để sử dụng vào mục đích xây chùa, nguồn tiền này có phải chịu bất kỳ nghĩa vụ kê khai thuế nào hay không?
Bài viết này Luật Kỳ Vọng Việt sẽ đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật hiện hành, từ đó có cái nhìn chính xác và tránh được các rủi ro pháp lý về thuế.

1. Tình huống thực tế
Căn cứ pháp lý:
- Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016
- Điều 3, 9 Thông tư 04/2023/TT-BTC
- Khoản 8 Điều 4 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025
Một sư thầy đại diện cho chùa X, cơ sở tôn giáo đã được công nhận hoạt động hợp pháp, trực tiếp nhận khoản tài trợ bằng tiền mặt từ một tổ chức an sinh xã hội nhằm phục vụ việc xây dựng, sửa chữa chùa. Khoản tiền này được xác định rõ mục đích là xây dựng cơ sở thờ tự, không liên quan đến bất kỳ hoạt động kinh doanh hay dịch vụ thương mại nào.
Phân tích:
- Theo quy định pháp luật Việt Nam, chùa là cơ sở tôn giáo được Nhà nước công nhận vậy nên các khoản tiền được đến từ các khoản hiến, tặng cho, tài trợ của tổ chức, cá nhân cho chùa được phân loại là tiền công đức.
- Về nghĩa vụ thuế, khoản tài trợ này không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN), vì đây không phải thu nhập cá nhân mà thuộc tiền tài trợ cho cơ sở tôn giáo, không nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân.
- Khoản tiền này cũng không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), vì chùa là tổ chức tôn giáo – pháp nhân phi thương mại và khoản tài trợ được sử dụng đúng mục đích phi lợi nhuận, được miễn thuế.
- Ngoài ra, khoản tiền này không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) vì không phát sinh hoạt động mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ.
Như vậy, khoản tài trợ này là tiền công đức/tài trợ hợp pháp, không thuộc diện chịu thuế, nhưng phải thực hiện đầy đủ theo quy định về tiếp nhận, quản lý, sử dụng và báo cáo tài chính theo nguyên tắc tự chủ và minh bạch của tổ chức tôn giáo.
2. Xác định nghĩa vụ thuế và trách nhiệm tiếp nhận tài trợ
Căn cứ pháp lý:
- Điều 9, 10 Thông tư 04/2023/TT-BTC
- Điều 26, 27 Nghị định 95/2023/NĐ-CP
(1) Nghĩa vụ thuế
(1.1) Sư thầy/cá nhân nhận tiền đại diện chùa
Không phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Các khoản tài trợ, công đức cho hoạt động tôn giáo/di tích (như xây dựng, sửa chữa chùa) không phải là thu nhập cá nhân chịu thuế nếu được quản lý và sử dụng đúng mục đích của tổ chức tôn giáo, không nhằm tiêu dùng cá nhân. Sư thầy, với tư cách đại diện chùa X, nhận tiền nhưng bàn giao vào quỹ của chùa, do đó không chịu thuế TNCN. Người đại diện cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng hoặc chủ sở hữu di tích tự quyết định và chịu trách nhiệm về tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền này trừ trường hợp nằm trong phạm vi địa bàn di tích được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng
Điều kiện: Sư thầy phải mở sổ ghi chép đầy đủ tiếp nhận tài trợ, quản lý, gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước nếu chưa sử dụng, đảm bảo minh bạch và an toàn.
(1.2) Chùa (cơ sở tôn giáo)
Không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Thu nhập từ tài trợ, công đức phục vụ hoạt động tôn giáo thuần túy (như xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự) của tổ chức tôn giáo được miễn thuế TNDN, bất kể nguồn tài trợ từ trong hay ngoài nước, miễn là sử dụng đúng mục đích phi lợi nhuận và không phân phối lợi nhuận. Không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) vì không phát sinh hoạt động mua bán hàng hóa hay dịch vụ.
Điều kiện: Chùa X phải tiếp nhận, quản lý khoản tài trợ minh bạch, sử dụng đúng mục đích xây dựng, sửa chữa chùa theo quy định của luật. Tiến hành báo cáo nếu tổ chức an sinh xã hội là tổ chức nước ngoài
(2) Trách nhiệm khi tiếp nhận tài trợ
(2.1) Trong trường hợp tổ chức an sinh xã hội là tổ chức trong nước
Sư thầy, với tư cách là người đại diện chùa X, có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và sử dụng tiền công đức, tài trợ trong nước để bảo vệ, phát huy giá trị di tích và tổ chức lễ hội, đảm bảo minh bạch, an toàn và đúng mục đích, tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, di sản văn hóa và các quy định pháp luật khác .
- Mở tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại để phản ánh việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng tiền công đức, tài trợ.
- Tiếp nhận tiền mặt: cử người tiếp nhận, mở sổ ghi chép đầy đủ; định kỳ kiểm đếm hòm công đức; tiền mặt chưa sử dụng gửi vào tài khoản ngân hàng để quản lý an toàn, minh bạch.
Ngoài ra, người đại diện cơ sở tôn giáo/tín ngưỡng hoặc chủ sở hữu di tích còn có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản tài trợ, bảo đảm phù hợp pháp luật trừ trường hợp cơ sở tôn giáo nằm trong phạm vi địa bàn di tích được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng
(2.2) Trong trường hợp tổ chức an sinh xã hội là tổ chức nước ngoài
Khi tiếp nhận tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài, chùa X và sư thầy phải thực hiện theo các quy định liên quan:
- Các khoản tài trợ từ nước ngoài phải công khai, minh bạch, đúng mục đích, phục vụ hoạt động tôn giáo (đào tạo, bồi dưỡng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở tôn giáo, tổ chức nghi lễ, xuất bản, nhập khẩu kinh sách, văn hóa phẩm, đồ dùng tôn giáo).
- Trước khi tiếp nhận 20 ngày, phải thông báo bằng văn bản tới cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo (cấp trung ương hoặc cấp tỉnh tùy theo phạm vi hoạt động). Văn bản thông báo phải nêu: tên tổ chức tôn giáo, người đại diện, trụ sở, tên và trụ sở tổ chức/cá nhân nước ngoài tài trợ, mục đích, thời gian, cách thức, hình thức (tiền hay hiện vật), giá trị (VND), dự kiến thời gian sử dụng, phương thức quản lý, thông tin tài khoản tiếp nhận và bản cam kết nguồn gốc hợp pháp, nghĩa vụ thuế của tổ chức/cá nhân tài trợ.
- Sau khi sử dụng, trong vòng 20 ngày, chùa X gửi báo cáo kết quả sử dụng khoản tài trợ đến cơ quan quản lý. Nếu khoản tài trợ kéo dài quá 12 tháng, báo cáo tiến độ hằng năm.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền kiểm tra, giám sát, yêu cầu chấm dứt việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng nếu không đúng quy định và khoản tài trợ nước ngoài không được coi là viện trợ cho Nhà nước hoặc các cơ quan tổ chức tại Việt Nam.
- Hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ có thể thực hiện theo phương thức trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp – trực tuyến. Khi thay đổi thì thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thời hạn 05 ngày làm việc trước ngày thực hiện hoạt động.
KẾT LUẬN
Như vậy, việc sư thầy xin được tiền từ tổ chức an sinh xã hội về xây chùa có phải kê khai thuế không cần được xem xét dựa trên bản chất của khoản tiền đó và chủ thể sử dụng.
Trên đây là thủ tục về Sư thầy xin được tiền từ tổ chức an sinh xã hội về xây chùa có cần kê khai thuế? Nếu bạn còn thắc mắc liên quan đến vấn đề này. Hãy liên hệ với Luật Kỳ Vọng Việt để được tư vấn, hỗ trợ một cách chính xác nhất.
Trân trọng cảm ơn!
Zalo: 090.225.5492
Xem thêm:
- Thủ tục thực hiện chuyển đổi hộ kinh doanh sang doanh nghiệp
- Những lưu ý khi soạn thảo Hợp đồng lao động để tránh rủi ro pháp lý
- Thủ tục chuyển đổi loại hình Công ty TNHH sang Công ty Cổ phần
- Thủ tục cấp lại Giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế khi bị mất
- Chuyển đổi loại hình từ Công ty Cổ phần sang Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
- Làm gì khi cổ đông không góp đủ vốn theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp?
- Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần
- Phân biệt thuê tài sản, mượn tài sản và quyền hưởng dụng tài sản
